Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

Từ bi và độ lượng không phải là dấu hiệu của yếu đuối mà nó là biểu hiện của sức mạnh nội tâm.            Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười.

Niệm Phật vì phát vô thượng Bồ-đề tâm

10/09/2013 09:20
Đản hoài đích thật của đức Thế Tôn là muốn cho tất cả chúng sinh đều thoát vòng sinh tử, đều được giác ngộ như Ngài. Cho nên, người niệm Phật cần phải phát Bồ-đề tâm, tức là phát khởi cái tâm mong cầu quả vị Phật A-di-đà. Quả vị ấy là cứu cánh tối thượng, không còn có gì hơn, siêu việt cả hàng Thanh văn, Duyên giác, nên phát tâm như vậy còn gọi là phát vô thượng Bồ-đề tâm.
  Tâm nầy gồm có hai loại chủng tử chính yếu, là từ bi và trí tuệ, thường hay phát xuất công năng độ thoát mình và cứu vớt tất cả chúng sinh.

   Kinh dạy rằng: “Bồ-đề tâm làm nhân, đại bi làm căn bản, phương tiện trí tuệ làm cứu cánh”.

   Ví như người đi xa thì trước tiên phải nhận định mục tiêu sẽ đến và phải ý thức chủ đích cuộc hành trình vì lý do nào, sau cùng thì phải dùng phương tiện nào để khởi tiến.
 
   Người học Phật cũng phải như thế, nghĩa là trước tiên phải xem quả vị vô thượng Bồ-đề làm mục tiêu rốt ráo, lấy lòng đại bi lợi mình lợi người làm chủ đích thực hành, kế đó, tùy sở thích và căn cơ mà lựa chọn pháp môn để tu tập. Phương tiện còn là trí tuệ quyền biến tùy cơ nghi, áp dụng tất cả hạnh thuận nghịch trong khi hành Bồ-tát đạo. Cho nên, Bồ-đề tâm là mục tiêu cần phải nhận định rõ ràng trước khi hành trì.

   Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nếu quên mất tâm Bồ-đề mà tu hành các thiện pháp, đó gọi là ma nghiệp”.

   Thật vậy, nếu dụng công khổ nhọc mà quên sót mục tiêu cầu thành Phật để lợi mình lợi người, thì bao nhiêu hạnh lành chỉ đem đến kết quả hưởng phước báo nhơn thiên, chung cuộc vẫn bị chìm mê quanh quẩn trong nẻo luân hồi, chịu vô biên nỗi khổ. Như vậy, chẳng là nghiệp ma thì còn gọi là gì? Thế thì, phát lòng vô thượng Bồ-đề để lợi ích cho chính mình và cho chúng sinh, là điểm phát tâm rất cần yếu.

   Pháp môn niệm Phật thuộc về pháp Đại thừa. Nếu phát Bồ-đề tâm mà niệm Phật thì tâm và pháp đều được toàn vẹn, sẽ đi đến quả viên giác kiêm cả tự lợi và lợi tha.

   Muốn phát Bồ-đề tâm, người niệm Phật cần phải quán sát để phát tâm một cách thiết thực và hành động đúng theo tâm nguyện ấy trong suốt cuộc đời mình. Đệ tử chúng con lâu nay phần nhiều chỉ tu theo hình thức mà ít chú trọng đến chỗ khai tâm, thành thử lửa tam độc là tham sân si vẫn cháy hừng, không hưởng được hương vị thanh lương giải thoát như đức Phật dạy.

   Muốn cho Bồ-đề tâm phát sinh một cách thiết thực, cần nên suy tư quán sát để phát tâm theo sáu điểm như sau:
 
   Điểm thứ nhất: Giác ngộ tâm

   Chúng sinh thường chấp sắc thân nầy là Ta, thường chấp cái tâm thức có hiểu biết có buồn giận thương vui nầy là Ta. Nhưng thật ra, sắc thân nầy là giả dối, ngày kia khi chết đi, nó sẽ tan về với đất bụi, cho nên sắc thân tứ đại nầy không phải là Ta. Tâm thức cũng thế, nó chỉ là cái thể tổng hợp về cái biết của sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Cái biết của ta khi thì có, khi thì không – hình ảnh nầy tiêu hoại thì hình ảnh khác hiện ra, tùy theo trần cảnh mà thay đổi luôn luôn, hư giả không thật. Cho nên, tâm thức nầy không phải là Ta.

   Cổ đức đã bảo: “Thân như bọt tụ, tâm như gió huyễn hiện vô căn, không tánh thật”.

   Nếu giác ngộ thân tâm như huyễn thì sẽ không còn chấp trước, lần lần sẽ đi vào cảnh giới nhơn không, chẳng còn ngã tướng. Cái Ta của ta đã là không, thì cái Ta của người khác cũng là không nên chẳng còn nhơn tướng. Cái Ta của ta đã không, thì tất cả cái Ta của vô số chúng sinh cũng là không. Nếu không còn chúng sinh tướng, cái Ta đã là không, nên không có bản ngã bền lâu, nên không thật có ai chứng đắc, không có ai thọ nhận, nên không có thọ giả tướng.

   Nhơn đã không thì pháp cũng không, vì sự cảnh luôn luôn đổi thay sinh diệt, không có tự thể. Đây lại cần nên nhận rõ: “Chẳng phải các pháp khi hoại diệt mới thành không, mà chính vì nó hư huyễn nên đương thể tức là không? Cả nhơn cũng thế. Khi giác ngộ là cả nhơn và pháp đều không, thì giữ lòng thanh tịnh và trong sáng, không chấp trước mà niệm Phật. Dùng lòng giác ngộ như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ-đề tâm”.

   Điểm thứ hai: Bình đẳng tâm 
Trong Khế kinh, đức Phật đã dạy: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, là cha mẹ đời quá khứ của ta và là chư Phật đời vị lai”.

   Chư Phật thấy chúng sinh là Phật nên dùng tâm bình đẳng đại bi mà cứu độ. Là đệ tử của Phật, chúng con phải tuân theo lời dạy của Phật. Cho nên, đối với chúng sinh phải có tâm bình đẳng và tôn trọng. Tôn trọng và thừa sự chúng sinh là tôn trọng và thừa sự đức Như Lai, làm cho chúng sinh hoan hỷ tức là làm cho chư Phật hoan hỷ. Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền đã dạy như thế. Khi dùng lòng bình đẳng tôn kính mà tu niệm thì chúng con sẽ dứt được cái nghiệp chướng phân biệt và khinh mạn, rồi nhờ đó mà sẽ dứt trừ được mọi thứ phiền não để nẩy sinh các đức lành. Dùng lòng bình đẳng như thế mà hành đạo thì gọi là phát vô thượng Bồ-đề tâm.
  
   Điểm thứ ba: Từ bi tâm
 
   Đệ tử chúng con và tất cả chúng sinh đều sẵn đủ công đức, tướng hảo cùng trí tuệ của Như Lai, do vì mê mờ chân tánh và dấy khởi hoặc nghiệp nên phải bị luân hồi, chịu vô biên sự thống khổ. Nay đã rõ như thế, chúng con cần phải dứt trừ tâm phân biệt yêu ghét, mà khởi lòng cảm hối từ bi, để tìm phương tiện độ mình cứu người, để cùng nhau được an vui thoát khổ. Cũng nên nhận rõ rằng từ bi khác với ái kiến. Ái kiến là lòng thương yêu còn chấp luyến trên hình thức, trên tình cảm và tâm phân biệt, cho nên kết quả là bị sợi dây tình ái buộc ràng.

   Từ bi là lòng xót thương cứu độ mà không phân biệt chấp trước, và xa lìa mọi hình tướng. Tâm từ bi thể hiện dưới nhiều mặt, nên kết quả được an vui giải thoát và phước huệ càng tăng thêm.

   Muốn cho tâm từ bi được thêm rộng lớn thì phải xét từ nỗi khổ của chính mình mà cảm thông đến các nỗi khổ khó khăn khó chịu của kẻ khác, tự nhiên sinh ra lòng xót thương cứu vớt, niệm từ bi của Bồ-đề tâm từ đó sẽ phát ra.

   Trong kinh Hoa Nghiêm, ngài Phổ Hiền Bồ-tát đã khai thị rằng: “Bồ-tát quán sát chúng sinh không nơi nương tựa mà khởi đại bi, quán sát chúng sinh tánh chẳng điều thuận mà khởi đại bi, quán sát chúng sinh nghèo khổ không căn lành mà khởi đại bi, quán sát chúng sinh ngủ say trong đêm dài vô minh mà khởi đại bi, quán sát chúng sinh làm những điều ác mà khởi đại bi, quán sát chúng sinh đã bị ràng buộc lại thích lao mình vào chỗ ràng buộc mà khởi đại bi, quán sát chúng sinh chìm đắm trong biển sinh tử mà khởi đại bi, quán sát chúng sinh vương mang tật khổ lâu dài mà khởi đại bi, quán sát chúng sinh không ưa thích pháp lành mà khởi đại bi, quán sát chúng sinh xa mất Phật pháp mà khởi đại bi...”.

    Đã phát đại bi tâm thì tất phải phát vô thượng Bồ-đề tâm, thề nguyền cứu độ. Vậy thì, lòng đại bi là lòng đại Bồ-đề, phải dung thông nhau. Cho nên, phát từ bi tâm tức là phát vô thượng Bồ-đề tâm. Dùng lòng đại bi như thế mà niệm Phật và sống đạo mới gọi là phát Bồ-đề tâm.

   Điểm thứ tư: Hoan hỷ tâm

   Đã có xót thương thì phải thể hiện lòng xót thương ấy qua tâm hoan hỷ. Hoan hỷ gồm có hai thứ: tùy hỷ và hỷ xả.

   Tùy hỷ là khi thấy trên từ chư Phật và thánh nhân, dưới cho đến các loại chúng sinh có làm được công đức gì dù lớn dù nhỏ, đều cũng vui mừng theo. Và khi thấy ai được sự phước lợi, hưng thạnh, thành công, an ổn cũng sinh ra ý niệm vui vẻ, mừng giùm cho họ.

   Hỷ xả là dù có chúng sinh làm những điều tội ác, vong ân, khinh hủy, hiểm độc, tổn hại cho mình, đều cũng an nhẫn, vui vẻ mà bỏ qua.

   Lòng tùy hỷ sẽ trừ được các chướng ngại của sự ganh ghét nhỏ nhen. Lòng hỷ xả sẽ giải trừ được chướng ngại của sự hận thù báo phục. Bởi vì tâm hoan hỷ không ngoài sự giác ngộ mà thể hiện, nên đó chính là lòng Bồ-đề.

   Dùng lòng hoan hỷ như thế mà niệm Phật, mới gọi là phát Bồ-đề tâm.

   Điểm thứ năm: Sám nguyện tâm

   Trong kiếp sống luân hồi dằng dặc lâu xa, mọi loài chúng sinh thường đổi thay hình dạng và làm quyến thuộc lẫn nhau. Nhưng vì đệ tử chúng con mê mờ lầm lạc, từ vô thỉ cho đến ngày nay, do tâm chấp ngã chỉ muốn lợi mình, nên đã từng làm tổn hại chúng sinh, tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp. Thậm chí đến chư Phật và thánh nhân, vì tâm đại bi mà hiện ra nơi đời để thuyết pháp cứu độ tất cả các loài, trong ấy có cả chúng con, vậy mà đối với ngôi Tam bảo, chúng con đã từng sinh lòng vong ân hủy phá.

   Ngày nay, biết được lỗi lầm của mình, đệ tử chúng con vô cùng hổ thẹn và ăn năn, xin chí thành sám hối cả ba nghiệp thân khẩu ý.

   Ngay cả đức Di Lặc Bồ-tát dù đã chứng ngôi vị bất thoái, vì muốn mau đắc quả Phật mà mỗi ngày còn lễ sám sáu thời. Vậy chúng con xin đem thân nghiệp kính lễ Tam bảo, khẩu nghiệp tỏ bày tội lỗi cầu mong được tiêu trừ, và đem ý nghiệp thành khẩn ăn năn, thề không tái phạm.

   Sau khi sám hối, chúng con xin dứt hẳn tâm nhơ và hạnh ác, không còn cho tiếp tục tái phạm nữa, để đi đến chỗ tâm và cảnh đều không, đó mới thật là sám hối chân chánh. Lại phải phát nguyện rằng: “Nguyện hưng long ngôi Tam bảo, nguyện độ khắp chúng sinh, nguyện hoằng truyền pháp môn niệm Phật để chuộc lại lỗi xưa và đền đáp bốn ơn nặng, đó là ơn Tam bảo, ơn cha mẹ, ơn sư trưởng cùng thiện hữu trí thức. Cuối cùng là ơn của tất cả chúng sinh”.

   Điểm thứ sáu: Bất thoái tâm

   Dù đã sám hối, phát nguyện tu hành nhưng nghiệp hoặc và ma chướng không dễ gì dứt, và sự lập bồi công đức không dễ gì thành tựu. Con đường Bồ đề đi đến quả viên giác lại xa vời vợi, đầy chướng ngại cam go. Ngài Xá-lợi-phất trong tiền kiếp chứng đến ngôi lục trụ, phát đại Bồ-đề tâm tu hạnh bố thí. Nhưng khi chịu khổ để khoét một con mắt cho người ngoại đạo, bị họ không dùng, liệng xuống đất rồi nhổ nước dãi, lấy chân chà đạp lên trên, Ngài liền thối thất Đại thừa tâm.

   Như vậy, muốn giữ vững tâm nguyện là điều không phải dễ dàng. Đệ tử chúng con chỉ vì muốn đạo tâm không thối chuyển nên phải lập thệ nguyện cho thật kiên cố.

   Đệ tử chúng con thề rằng: “Thân nầy dẫu chịu vô lượng sự nhọc nhằn khổ nhục, hoặc bị đánh giết cho đến thiêu đốt nát tan thành tro bụi, cũng không vì thế mà phạm vào điều ác, mà thối thất trên bước đường tu hành. Dùng lòng bất thoái chuyển như thế mà niệm Phật, mới gọi là phát vô thượng Bồ-đề tâm”.

   Đó là sáu yếu điểm bắt buộc phải có của người phát vô thượng Bồ-đề tâm. Nếu không dựa vào sáu điểm ấy để lập chí tu hành thì dù nói phát tâm, cũng chỉ là nói suông mà thôi, không thể nào đi đến Phật quả. Trước mắt chúng con chỉ có hai con đường: luân hồi và giải thoát. Đường giải thoát tuy có lắm nỗi gian nan, nhưng mỗi bước đều đi lần lần đến chỗ an vui sáng suốt. Đường luân hồi dù được tạm hưởng phước báo nhơn thiên, nhưng kết cuộc phải chuyển đến cảnh tam đồ, ác đạo, sự khổ vô biên không biết đến kiếp nào mới ra khỏi.

   Vì vậy, đệ tử chúng con quyết chí niệm Phật suốt đời, nguyện vì hết thảy chúng sinh mà phát vô thượng Bồ-đề tâm mà hoàn thành Phật đạo. Bởi lẽ, muốn sớm chứng đắc Phật quả, muốn thành tựu Bồ-đề tâm, chúng con phải dốc lòng cầu vãng sinh Cực lạc cũng như phải niệm Phật chuyên cần.

    NHỮNG HUẤN THỊ VỀ BỒ ĐỀ TÂM


    Kinh Hoa Nghiêm có dạy: “Nầy thiện nam tử! Bậc Bồ-tát phát lòng vô thượng Bồ-đề là: khởi lòng đại bi cứu độ tất cả chúng sinh, khởi lòng cúng dường chư Phật, cứu cánh thừa sự. Khởi lòng khắp cầu chánh pháp tất cả không sẻn tiếc. Khởi lòng thú hướng rộng lớn cầu Nhất thiết trí. Khởi lòng đại từ vô lượng khắp nhiếp tất cả chúng sinh. Khởi lòng không bỏ rơi các loài hữu tình, mặc áo giáp kiên thệ để cầu Bát nhã ba la mật. Khởi lòng không siểm dối  vì cầu được trí như thật. Khởi lòng thật hành y như lời nói để tu đạo Bồ-tát. Khởi lòng không dối đối với chư Phật vì gìn giữ thệ nguyện lớn của tất cả Như Lai. Khởi lòng nguyện cầu Nhất thiết trí cùng tận kiếp vị lai giáo hóa chúng sinh không ngừng nghỉ. Bồ-tát dùng những công đức Bồ-đề tâm nhiều như vi trần số cõi Phật như thế nên được sinh vào nhà Như Lai”.
 
   “Nầy thiện nam tử! Như người học bắn trước hết phải tập thế đứng, rồi sau mới học đến cách bắn. Cũng thế, Bồ-tát muốn học đạo Nhất thiết trí của Như Lai, trước hết phải an trụ nơi Bồ-đề tâm, rồi sau mới tu hành tất cả Phật pháp. Thiện nam tử! Ví như vương tử tuy hãy còn thơ ấu song tất cả đại thần đều phải kính lễ. Cũng thế, Bồ-tát tuy mới phát Bồ-đề tâm tu Bồ-tát hạnh, nhưng tất cả bậc kỳ cựu hàng nhị thừa đều phải nể vì kính trọng”.

   “Thiện nam tử! Như thái tử tuy đối với quần thần chưa được tự tại, song đã có đầy đủ tướng trạng của vua, mà các bầy tôi không thể sánh bằng, bởi nhờ chỗ xuất sinh tôn quý. Cũng thế, Bồ-tát tuy đối với các nghiệp phiền não chưa được tự tại, song đã đầy đủ tướng trạng Bồ-đề, hàng nhị thừa không thể sánh hàng, bởi nhờ chủng tánh đứng vào bậc nhất”.

    “Thiện nam tử! Như người máy bằng gỗ nếu không có mấu chốt thì các thân phần rời rạc chẳng thể hoạt động. Cũng thế Bồ-tát nếu thiếu Bồ-đề tâm thì các hạnh lành đều bị phân tán, không thể thành tựu tất cả Phật pháp”.

   “Thiện nam tử! Như chất kim cương thì tất cả mọi vật không thể phá hoại, trái lại có thể phá hoại tất cả vật khác, song thể tánh của nó vẫn không tổn giảm. Bồ-đề tâm của Bồ-tát cũng thế, khắp ba đời trong vô số kiếp giáo hóa chúng sinh, tu các khổ hạnh, việc hàng nhị thừa không thể làm mà Bồ-tát đều làm được, song kết cuộc vẫn chẳng chán mỏi giảm hư”.

   Phổ Hiền Bồ-tát dạy rằng: “Thiện nam tử! Bồ-tát vì điều phục giáo hóa tất cả chúng sinh nên phát Bồ-đề tâm, vì trừ diệt khổ tụ cho tất cả chúng sinh nên phát Bồ-đề tâm, vì đem cho tất cả chúng sinh sự an vui đầy đủ nên phát Bồ-đề tâm, vì dứt trừ sự ngu tối cho tất cả chúng sinh nên phát Bồ-đề tâm, vì đem lại Phật trí cho tất cả chúng sinh nên phát Bồ-đề tâm, vì tùy thuận lời dạy của Như Lai khiến chư Phật hoan hỷ nên phát Bồ-đề tâm, vì muốn thấy sắc thân và tướng hảo của tất cả chúng sinh nên phát Bồ-đề tâm, vì cung kính cúng dường tất cả chư Phật nên phát Bồ-đề tâm, vì muốn nhập vào trí tuệ rộng lớn của tất cả chư Phật nên phát Bồ-đề tâm, vì muốn hiển hiện các Đức, Lực, Vô úy của chư Phật nên phát Bồ-đề tâm”.

   Đệ tử chúng con vẫn nhận thức rất rõ rằng: “Nẻo luân hồi có quá nhiều chướng nạn, nếu chưa chứng quả vô sinh thì khi chuyển sang kiếp sống khác ắt dễ bị hôn mê sa đọa”.

   Cho nên, muốn bảo đảm được tâm vô thượng Bồ-đề không bị thối thất và để dễ dàng thành mãn chí nguyện độ sinh, chúng con phải gấp rút thanh toán vấn để sống chết bằng cách cầu vãng sinh cõi Cực lạc.

   Như vậy, nhờ sự giáo huấn của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, nhờ oai lực vĩ đại của bản nguyện A-di-đà, mà từ nay, chúng con đã biết rõ niệm Phật thì phải phát vô thượng Bồ-đề tâm.

   Với lòng tri ân tha thiết và chân thành, đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ:

   Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

   Nam mô Đại từ đại bi A-di-đà Phật, vị Đạo sư tiếp dẫn vãng sinh Cực lạc.

   Nam mô Cứu khổ cứu nạn Đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát.

   Nam mô Đại hùng đại lực Đại Thế Chí Bồ-tát.

   Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-tát.
 
 
Theo sách Niệm Phật sám pháp

 

Các tin tức khác